Trang

Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts
Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts

Tuesday, April 10, 2012

Nhiều ngân hàng có khả năng phải rút vốn

Tương tự như cú “nước rút” giảm tỷ trọng tín dụng phi sản xuất trong năm 2011, nhiều ngân hàng có khả năng phải hồi vốn, nếu chính sách đang bàn thảo được ban hành.

Bản dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 13/2010/TT-NHNN về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng đã được công bố.
Nếu áp trở lại quy định về tỷ lệ LDR 80% và 85%, những trường hợp đã cho vay quá tay buộc phải mở rộng mẫu số so sánh (tổng tiền gửi) hoặc phải rút bớt dư nợ về.
Nếu áp trở lại quy định về tỷ lệ LDR 80% và 85%, những trường hợp đã cho vay quá tay buộc phải mở rộng mẫu số so sánh (tổng tiền gửi) hoặc phải rút bớt dư nợ về.
Như những thông tin được VnEconomy đề cập vừa qua, một nội dung quan trọng dự kiến thay đổi là chuyển nhóm tài sản có hệ số rủi ro từ 250% xuống nhóm 150%. Đây là những tài sản thuộc hoạt động cho vay, đầu tư kinh doanh bất động sản, chứng khoán. Nếu như vậy sẽ giảm tải áp lực hệ số an toàn vốn (CAR), tạo điều kiện nhất định để các ngân hàng có thể mở rộng cho vay trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng chật vật từ đầu năm.

Theo ban soạn thảo dự thảo, lý do để điều chỉnh hệ số trên là do tình hình thị trường chứng khoán, bất động sản hiện nay có nhiều khó khăn, các tổ chức tín dụng đã ý thức được mức độ rủi ro đối với các hoạt động này, đồng thời đây là những hoạt động thuộc danh mục Ngân hàng Nhà nước không khuyến khích và yêu cầu phải giảm tỷ lệ xuống dưới 20% trong năm 2011, cũng như áp giới hạn tỷ trọng tối đa 16% trong năm 2012.

Điểm sửa đổi quan trọng thứ hai là tỷ lệ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). Bản thân việc tái áp tỷ lệ này đã là một tác động lớn đối với việc sử dụng vốn của các ngân hàng; thêm nữa, dự thảo còn đưa ra một số thay đổi về việc xác định các cấu phần để tính LDR.

Trước đó, với Thông tư 13, việc áp tỷ lệ LDR đã được xác định là 80% và 85% (đối với ngân hàng thương mại và công ty tài chính). Sau đó, Ngân hàng Nhà nước đã sửa đổi bằng Thông tư 19 với những thay đổi đáng kể. Và cuối cùng là sự gỡ bỏ.

Hiện dự thảo trên đang được đưa ra lấy ý kiến các thành viên trong hệ thống, và nếu ban hành thì một lần nữa quy định về LDR được “tái sinh” và có tác động lớn tới nguồn vốn các nhà băng, thậm chí có thể tạo sức ép với yêu cầu phải rút vốn để đảm bảo các giới hạn quy định.

Theo nội dung dự thảo, quy định và yêu cầu về tỷ lệ LDR sẽ được tái lập và giữ nguyên như trong Thông tư 13; tức tỷ lệ cho vay so với tổng tiền gửi của các tổ chức tín dụng chỉ được 80% và 85% thay vì “thả nổi” như hiện nay. Cũng có một hướng khác là sẽ nâng lên là 95% và 100% (nới lỏng hơn). Và một điểm quan trọng khác dự tính là dư nợ cho vay và tiền gửi sẽ chỉ được tính trên thị trường 1.

Với những dự kiến sửa đổi và bổ sung trên, một khả năng đang đặt ra là nếu chính thức ban hành thì nhiều ngân hàng sẽ đứng trước áp lực phải rút vốn.

Thứ nhất, với việc áp trở lại quy định về tỷ lệ LDR 80% và 85%, những trường hợp đã cho vay quá tay buộc phải mở rộng mẫu số so sánh (tổng tiền gửi) hoặc phải rút bớt dư nợ về; đáng chú ý là theo dự thảo, dư nợ sẽ bao gồm cả các khoản đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp và ủy thác đầu tư. Đây là một áp lực đáng kể khi dữ liệu của một cơ quan chuyên trách công bố mới đây cho hay tỷ lệ LDR của hệ thống thời gian gần đây đã vượt trên 100%.

Thứ hai, nếu chỉ tính dư nợ cho vay và tiền gửi trên thị trường 1 (từ dân cư và tổ chức), áp lực đảm bảo LDR càng lớn. Bởi lâu nay tiền gửi huy động trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) là một cấu phần đáng kể của nhiều ngân hàng thương mại. Nếu phần này bị “gạt” đi, mẫu số so sánh bị nhỏ đi, tỷ lệ cho vay buộc phải co lại “tương ứng”, hay có thể phải rút vốn và giảm cho vay ra để đảm bảo quy định.

Ở điểm thứ hai này, VnEconomy cũng đã trao đổi với một lãnh đạo chuyên trách, trực tiếp tham gia xây dựng dự thảo. Thông tin nhận được là một hướng mở: trước hết, vốn huy động trên thị trường 2 được xác định là tiền gửi; dự thảo thông tư đưa ra các quy định dự kiến, các phương án để trước mắt lấy ý kiến của các thành viên, tôn trọng thực tế hoạt động của các ngân hàng, cũng như tiếp thu các tiêu chuẩn hợp lý trên thế giới, sau đó sẽ trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét và quyết định.

Liên quan đến nguồn vốn huy động trên liên ngân hàng, ở một vấn đề khác, tổng giám đốc một ngân hàng thương mại lớn cũng từng khẳng định rằng đó là tiền gửi và chưa bao giờ là cho vay. Khẳng định này được ông nhấn mạnh khi phản ứng về việc các ngân hàng lớn đưa ra yêu cầu phải có tài sản thế chấp khi giao dịch trên thị trường này, phát sinh từ hồi tháng 10 năm ngoái…

Như thông tin từ thành viên tham gia xây dựng dự thảo, những quy định trên mới chỉ là dự kiến và sẽ tiếp tục hoàn thiện, nhưng giả sử được chốt lại và ban hành, những ngân hàng có tỷ lệ LDR vượt mức (nhất là nếu không tính vốn huy động liên ngân hàng vào tổng tiền gửi) sẽ buộc phải rút vốn về, cùng với đó là khả năng phải tăng cường huy động để nâng cao hơn tổng tiền gửi và điều này khiến lãi suất sẽ căng thẳng thêm, giảm lãi suất cho vay lại thêm một trở ngại.

Tất nhiên, trong trường hợp những quy định dự kiến trên được ban hành, Ngân hàng Nhà nước có lẽ sẽ đặt ra một lộ trình hợp lý, tạo điều kiện để các ngân hàng cân đối lại nguồn vốn, tránh “cuộc đua nước rút” như từng có trong năm 2011 về thực hiện giảm tỷ trọng tín dụng phi sản xuất.

Hiệu lực của thông tư đang dự thảo đưa ra thời điểm dự kiến có hiệu lực là từ ngày 1/6/2012; và trong vòng 45 ngày kể từ khi ký ban hành, trường hợp không đảm bảo được các tỷ lệ yêu cầu sẽ không được tiếp tục cấp tín dụng, góp vốn, mua cổ phần… và phải có phương án xử lý để đảm bảo yêu cầu.

Đặt trong trường hợp những ngân hàng phải rút vốn về đảm bảo tỷ lệ LDR nói trên, áp lực có lẽ cũng không hẳn quá lớn, khi chính sách tín dụng nhìn chung trong vài năm trở lại đây chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có thể sớm hồi vốn; tỷ lệ LDR quy định như trên cũng không quá thấp, thậm chí có thể được nâng lên 95% và 100%.

Mặt khác, theo xác định trong dự thảo thông tư, tiền gửi của cá nhân và tổ chức là được chấp nhận toàn bộ tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, nới hơn so với trước đây là lượng tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức chỉ được tính vào là 25%.

Ngoài ra, như đề cập ở trên, việc chuyển các tài sản có hệ số rủi ro 250% xuống nhóm 150% cũng là một sự nới lỏng nhất định có lợi cho việc sử dụng vốn của các tổ chức tín dụng.

Theo Nguyenthanhphuongvn.net

Sunday, April 8, 2012

Nợ xấu ngân hàng: mặt trái - mặt phải

“Có thể nói giai đoạn 1 là “chẩn bệnh” hệ thống đã hoàn thành khá xuất sắc, tất nhiên với cái giá phải trả cũng khá đắt. Ngân hàng Nhà nước đã ở thế chủ động để đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc hệ thống tổ chức tín dụng dù phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức”.
Khi đã “dồn” được một số ngân hàng yếu kém vào tái cơ cấu, chi phí sẽ hết bao nhiêu và lấy tiền ở đâu, rộng hơn là để tái cơ cấu cả hệ thống?
Khi đã “dồn” được một số ngân hàng yếu kém vào tái cơ cấu, chi phí sẽ hết bao nhiêu và lấy tiền ở đâu, rộng hơn là để tái cơ cấu cả hệ thống?
Đây là đánh giá của TS. Trịnh Quang Anh, Giám đốc nghiên cứu kinh tế - Ngân hàng Hàng hải (Maritime Bank), trong tham luận tại diễn đàn “Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức tại Đà Nẵng trong hai ngày 8 và 9/4.

Theo phân tích tại tham luận này, có thể xem nợ xấu chính là một nhân tố “giúp” đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu hệ thống.

Nợ xấu các ngân hàng là bao nhiêu ?

Theo Thông tư số 35, chậm nhất ngày 15/6/2012 tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế sẽ được Ngân hàng Nhà nước công bố. Trước thời điểm này, một số phân tích độc lập cũng đã ước tính những con số đáng tham khảo.

Tuần rồi, hãng định mức tín nhiệm quốc tế Fitch Ratings cho rằng tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể cao gấp 4 lần con số 3,3% được công bố. Ở đây có sự khác biệt quá lớn, có thể xuất phát từ cơ sở phân loại theo các tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn của Việt Nam.

Còn nếu theo tỷ lệ 3,3%, con số nợ xấu của hệ thống ước tính là hơn 90 nghìn tỷ đồng.

Đó cũng là con số được TS. Trịnh Quang Anh đưa ra trong tham luận nói trên. Tuy nhiên, ông cũng dự phòng rằng: “Chúng tôi ước tính, nếu hạch toán đúng và áp dụng chuẩn quốc tế về phân loại nợ, nợ xấu ngân hàng thực chất sẽ đạt tới mức ít nhất là 10% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế, tức khoảng trên 10 tỷ USD, chiếm gần 10% GDP hiện hành của Việt Nam”.

Và quan ngại được đưa ra, nếu so sánh mức nợ xấu này với mức vốn tự có đã điều chỉnh theo quy định hiện hành cộng với quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được trích lập, tỷ lệ này sẽ vượt quá 50% - mức báo động đỏ. Nhìn nhận này được diễn giải thêm, nhiều tổ chức tín dụng thực chất đã bị cụt hết vốn (hệ số CAR âm), tức đã mất khả năng thanh toán nhưng vẫn tạo vỏ bọc bên ngoài là chỉ bị khó khăn về thanh khoản.

Cũng theo chuyên gia của Maritime Bank, trong tổng số dư nợ cho vay bất động sản của các tổ chức tín dụng được báo cáo - hiện khoảng trên 200 nghìn tỷ đồng (chưa tính các khoản cho vay dưới hình thức đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, đảo nợ qua ủy thác đầu tư…), số đầu tư vào phân khúc phát triển dự án xây dựng và đầu cơ bất động sản ước chiếm tới 90%. Trong bối cảnh thị trường bất động sản tiếp tục đóng băng, sụt giá và chưa có dấu hiệu hồi phục tới cuối 2012, riêng nợ xấu từ khu vực này có thể chiếm tới 60% tổng nợ xấu ngân hàng.

Điểm đến chưa phải cuối cùng...

Nợ xấu gia tăng tạo thêm áp lực cho khó khăn thanh khoản; sức ngân hàng yếu đi và dễ bị “dồn” đến yêu cầu tái cơ cấu, nhất là khi các cửa tìm vốn bị siết lại. Mối liên hệ này được TS. Trịnh Quang Anh đưa ra trong tham luận của mình, một phần giải thích vì sao quá trình tái cơ cấu hệ thống đang diễn ra khá nhanh như vậy.

Chuyên gia này nhìn nhận rằng, thanh khoản hệ thống vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn do vấn đề nợ xấu ngân hàng chưa thể được giải quyết sớm. Thêm vào đó, sự kiện trần lãi suất huy động được tái áp đặt đầu tháng 9/2011 đã đẩy hệ thống vào nguy cơ rủi ro cao hơn khi mà vấn đề thanh khoản hệ thống chưa được giải quyết, và chắc chắn chưa thể được giải quyết sớm khi gốc của vấn đề là chất lượng tài sản ngân hàng thấp và có nguy cơ ngày càng xấu đi (chủ yếu do các yếu tố ngoại sinh: điều kiện vĩ mô chưa được cải thiện vững chắc, các thị trường tài sản tiếp tục suy giảm hoặc đóng băng, sản xuất có dấu hiệu rơi vào đình trệ...).

Với các ngân hàng yếu kém, từ gánh nặng nợ xấu gia tăng, thanh khoản trở nên ngột ngạt hơn khi cộng thêm khó khăn huy động vốn với trần lãi suất. Tình thế buộc phải vượt trần có từ đây. Nhưng đó không phải là con đường chính yếu và lâu dài, họ buộc phải dựa vào huy động ở thị trường 2 - liên ngân hàng.

Thế nhưng, nợ xấu liên ngân hàng nổi lên. Các điều kiện cầm cố, thế chấp xuất hiện phổ biến và thị trường liên ngân hàng rơi vào tình trạng “đóng băng”. Theo TS. Trịnh Quanh Anh, lãi suất liên ngân hàng vừa qua có xu thế giảm khá rõ rệt, tuy nhiên không phán ánh đúng cung - cầu vốn khi mà phạm vi lẫn quy mô của thị trường bị thu hẹp do các ngân hàng hạn chế cho vay và tập trung thu hồi nợ liên ngân hàng đã khiến khối lượng giao dịch sụt giảm.

Và điểm đến cuối cùng là: “Một số ngân hàng thiếu hụt thanh khoản, khi không thể huy động được vốn trên cả thị trường 1 lẫn thị trường 2, đường cùng đã buộc phải tìm đến cửa sổ tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước và chấp nhận các điều kiện kiểm soát khắt khe hay yêu cầu tái cơ cấu của cơ quan quản lý”.

Nhưng chưa hẳn đã là vấn đề cuối cùng. Trong tham luận của mình, TS. Trịnh Quang Anh đặt ra một số câu hỏi còn để ngỏ, và một điểm được nhấn mạnh: khi đã “dồn” được một số ngân hàng yếu kém vào tái cơ cấu, chi phí sẽ hết bao nhiêu và lấy tiền ở đâu, rộng hơn là để tái cơ cấu cả hệ thống?

“Giả thiết tổng chi phí tái cấu trúc hệ thống tổ chức tín dụng chiếm khoảng 15-20% GDP và ít nhất 60% số tiền này phải có ngay trong năm 2012 để trước hết là làm sạch bảng cân đối kế toán của các tổ chức tín dụng, nếu vậy, nguy cơ phải cầu viện đến sự giúp đỡ của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, là hoàn toàn hiện hữu. Khi đó, sự suy giảm chủ quyền trong quản lý, điều hành hoạt động ngân hàng cũng như nguy cơ thị phần hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nước bị chiếm lĩnh bởi các ngân hàng và nhà đầu tư nước ngoài là dễ nhận thấy”, bản tham luận đưa ra một giả thiết.

Ngân hàng bị sáp nhập do đâu ?

Giáp Tết Nguyên đán vừa qua, Thống đốc cho biết trong quý 1/2012, sẽ sáp nhập 5 - 8 ngân hàng. Nay đã sang quý 2/2012, nhưng các thông tin chi tiết vẫn chưa được công bố.
Trong lúc chờ đợi, việc mổ xẻ nguyên nhân dẫn đến các ngân hàng mất thanh khoản và bị sáp nhập kể cũng đáng được quan tâm.

Quản trị lỏng lẻo

Chắc chắn thời điểm để Ngân hàng Nhà nước công bố cụ thể không còn xa vì theo thông tin mới nhất, Ngân hàng Nhà nước đang dần kết thúc thanh tra những ngân hàng trong diện bị sáp nhập và lúc đó, mọi chuyện sẽ rõ ràng hơn.

Nhưng, một câu hỏi đặt ra: tại sao thanh khoản của các ngân hàng trên lại bi đát, để rồi bị thâu tóm?

Một thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia, vốn đang giữ vai trò “se duyên” cho các thương vụ sáp nhập một cách không chính thức, lý giải: nguyên nhân lớn nhất là quản trị lỏng lẻo, xuất phát từ “cho vay nội bộ” ở các ngân hàng.

Theo ông, phần lớn là các ông chủ, các cổ đông lớn sau khi nắm giữ ngân hàng đã tìm mọi cách lấy tiền ngân hàng mình phục vụ cho các tập đoàn bất động sản, đầu tư sân golf sau lưng, với vô vàn cách thức lắt léo.

Ví dụ, để tránh quy định cấm cho vay “người liên quan” theo luật định, họ nhờ người thân, họ hàng đứng tên làm cổ đông “hờ”. Với mỗi cổ đông “hờ” giữ 3% - 5% vốn điều lệ, chỉ cần 10 suất, một chủ thực sự đã có 50% đến 70% vốn pháp định bằng lá bài này.

Một dạng khác, ông chủ đứng tên chủ ngân hàng cùng nhiều cổ đông khác nhưng thực chất là anh em, họ hàng hoặc người thân tín.

Với cách thức đó, các ông chủ ngân hàng, dù chính thức hay không, gần như toàn quyền quyết định các vấn đề trọng yếu, đặc biệt là cấp tín dụng cho các dự án của mình. Thế nên, không có gì phải ngạc nhiên khi phía sau ngân hàng luôn lấp ló các dự án bất động sản, sân golf mà nếu hời hợt bên ngoài, rất khó phát hiện ra và may lắm, mới có một  dự án thực sự đầu tư chiều sâu cho nền kinh tế.

Theo vị chuyên gia trên, đây là căn bệnh cho vay nội bộ đã có từ đợt tái cấu trúc ngân hàng chục năm trước và lần này lại có dịp bùng lên. Cũng chính vì quản trị lỏng lẻo, cho vay dễ dãi vào các dự án có thời hạn dài, trong khi nguồn lực mỏng và ngắn; gặp lúc thị trường bất động sản đình trệ, các ngân hàng trên rơi vào tình trạng “bóc ngắn, cắn dài”, “giật gấu vá vai” và bị mất thanh khoản.

Áp lực tăng vốn

Tuy nhiên, theo ông này, còn một nguyên nhân sâu xa khác, chính là áp lực từ Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ban hành ngày ngày 22/11/2006  và sau này sửa đổi thành Nghị định số 10/2011/NĐ-CP ngày 26/1/2011 về việc bắt buộc các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ từ mức 1.000 tỷ đồng đến năm 2008 và nâng lên 3.000 tỷ đồng đến năm 2011.

Bởi, khi tăng vốn điều lệ thì buộc các ngân hàng thương mại phải tăng tổng tài sản lên mức tương ứng để tránh lỗ. Vì thế, họ cuống cuồng mở chi nhánh và tìm khách hàng cho vay, điều không dễ dàng vì những vị trí đắc địa, khách hàng tốt đã bị những ngân hàng lớn đi trước chiếm giữ. Và lối thoát gần như duy nhất là tìm đến loại khách hàng dễ cho vay nhất, dễ kiếm lời nhất, khả năng cung bao nhiêu vốn cũng hết, đó là bất động sản. Thậm chí, ngay cả cho vay tiêu dùng cũng chảy vào bất động sản.

Song song với cạnh tranh cho vay, việc cạnh tranh huy động vốn cũng quyết liệt không kém. Thế mới có tình trạng ngân hàng này dâng lãi suất lấy vốn của ngân hàng kia, mặc dù Ngân hàng Nhà nước ban hành trần lãi suất nhưng liên tục bị xé rào.

Nhưng có lẽ trước khi bàn đến câu chuyện trên thì vấn đề đáng quan tâm hơn cả là ngân hàng lấy đâu ra hàng nghìn tỷ đồng để tăng vốn pháp định, nhất là trong điều kiện thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm. Nguyên một lãnh đạo của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia tiết lộ: lấy vốn từ “xoay vòng trái phiếu”, hay nói cách khác, lấy tín dụng của mình để đắp vào vốn pháp định với chiêu thức phối hợp rất nhịp nhàng và tinh vi giữa các ngân hàng với nhau.

Đơn cử, ông chủ ngân hàng A sẽ thành lập doanh nghiệp A’ và ngân hàng B cũng thành lập doanh nghiệp B’. Sau đó, doanh nghiệp A’ phát hành trái phiếu thì ngân hàng B mua; còn doanh nghiệp B’ phát hành trái phiếu thì ngân hàng A mua. Khi doanh nghiệp A’ thu được tiền từ bán trái phiếu cho ngân hàng B, với vài bút toán đơn giản, số tiền này được biến thành vốn điều lệ của ngân hàng A và ngược lại.

Cứ như vậy, ngân hàng và doanh nghiệp chỉ cần xoay vòng trái phiếu khoảng 3 – 4 lượt là có thể đắp đủ số vốn điều lệ cần thiết. Việc thanh toán nợ nần cho nhau sau này cũng diễn ra êm đẹp như lúc họ thỏa thuận phát hành trái phiếu.

Điều này lý giải không phải bỗng dưng khi cách đây không lâu, Ngân hàng Nhà nước đã ra tay dẹp “nạn” trái phiếu doanh nghiệp liên quan đến hoạt động ngân hàng, bằng cách yêu cầu tất cả tổ chức tín dụng thống kê toàn bộ doanh số mua bán trái phiếu doanh nghiệp và gom tất cả vào khoản mục tín dụng.

Tất nhiên, động thái này một mặt nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mỗi ngân hàng nhằm phục vụ mục tiêu thắt chặt tiền tệ nhưng mặt khác, nhà điều hành sẽ nắm được khá chi tiết dòng tiền mua bán trái phiếu giữa ngân hàng và doanh nghiệp đang… ở đâu!

Như vậy, những câu hỏi mà đến nay vẫn chưa ai trả lời và chịu trách nhiệm về mình là: yêu cầu tăng vốn pháp định nói trên có theo quy tắc thị trường hay không? Vì sao tăng vốn không xuất phát từ nhu cầu của các ông chủ ngân hàng và/hoặc do yêu cầu của nhà nước đối với từng trường hợp cá biệt mà lại phải tăng đồng loạt như vậy? Và với những bất cập như vậy, có nên tiếp tục duy trì sự tồn tại của Nghị định 141/2006/NĐ-Chính phủ và Nghị định số 10 sửa đổi Nghị định 141? 
Theo Nguyễn Hoài
VnEconomy

Qui định về an toàn của tổ chức tín dụng sắp được sửa

Ngân hàng Nhà nước đang chuẩn bị sửa Thông tư 13 quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Hoạt động của tổ chức tín dụng
Hoạt động của tổ chức tín dụng
Hôm 6/4, cơ quan chuyên trách của Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức lấy ý kiến góp ý trực tiếp vào dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

Một số nguồn tin cho biết dự thảo này cũng đã được gửi tới các tổ chức tín dụng để tiếp tục lấy ý kiến. Tuy nhiên, nhiều lãnh đạo ngân hàng hiện chưa nhận được dự thảo thông tư này.

Còn theo thông tin từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), ngày 6/4, Hiệp hội đã phối hợp với Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) họp để lấy ý kiến góp ý trực tiếp cho dự thảo.

Tại cuộc họp, một số vấn đề trọng tâm được đưa ra thảo luận là: tỷ lệ an toàn vốn; xử lý giá trị thực của vốn điều lệ, vốn được cấp giảm thấp hơn mức vốn pháp định; tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi; giới hạn cấp tín dụng; điều kiện, giới hạn cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu.

Trong khi đó, một số nguồn tin đang nhấn mạnh đến một số điều chỉnh quan trọng, nếu chính thức ban hành sẽ có tác động lớn đến việc sử dụng vốn của các tổ chức tín dụng, tác động đến dòng vốn ra thị trường.

Cụ thể, một hướng sửa đổi được đặt ra ở khả năng hạ hệ số rủi ro đối với các khoản cho vay bất động sản, chứng khoán từ 250% xuống còn 150%; áp tỷ lệ cho vay so với vốn huy động 95% và 100% đối với các ngân hàng thương mại và công ty tài chính.

Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các thành viên, dự thảo này dự kiến sẽ sớm hoàn thiện và có thể ban hành trong thời gian ngắn sắp tới. Và nếu những điều chỉnh trên được áp dụng thì sẽ có tác động đến hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, theo hướng kích thích tín dụng một cách phù hợp./.

Thursday, March 1, 2012

Tiền đổ vào cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán


Sức nóng của cổ phiếu ngân hàng chưa có dấu hiệu lắng dịu, sáng nay nhà đầu tư tiếp tục đổ mạnh tiền vào nhóm chứng khoán này. 

Sau khi Ủy ban Chứng khoán yêu cầu Eximbank Sacombank báo cáo nhanh biến động giá cổ phiếu STB, diễn biến 2 mã này sáng nay trái ngược nhau, chứ không cùng tăng như 3 ngày qua.

STB lần đầu giảm điểm sau 4 ngày tăng trần. Cổ phiếu này mất điểm trong phần lớn thời gian giao dịch. Tuy STB có lúc chạm tới mức tham chiếu và bật lên trên nhưng không trụ được bao lâu đã quay lại vùng giảm. Vẫn chứng tỏ là cổ phiếu khớp lệnh cao trên sàn TP HCM (sáng nay đạt 3,15 triệu), STB còn chuyển nhượng thỏa thuận thành công gần 22 triệu cổ phiếu với trị giá trên 504 tỷ đồng.

Trong khi đó, EIB giằng co mạnh và nhờ lực cầu lớn liên tục đưa vào nên đã bật lên mức cao nhất 18.700 đồng, ấn định phiên tăng thứ 4 liên tiếp. Mãi lực mua ở mã này không hề giảm mà mỗi lúc một tấp nập hơn. EIB là một trong 11 mã được gom nhiều nhất sàn TP HCM, đạt 4,14 triệu.

Cổ phiếu ngân hàng trở thành tâm điểm của dòng tiền sáng nay. Ngoài EIB, STB, được mua bán sôi động ngay đầu ngày còn có MBB. Đây là mã duy nhất sàn TP HCM chuyển nhượng 11,6 triệu, khối ngoại gom vào 1,82 triệu cổ phiếu.

Thanh khoản 2 sàn tiếp tục duy trì ở mức cao. Ảnh: B.H.
Tại sàn Hà Nội, giao dịch của HBB nổi trội hơn hẳn và là phiên thứ 7 liên tiếp ghi nhận lượng sang tay trên 10 triệu. Với mức chuyển nhượng 10,44 triệu, HBB chiếm một phần sáu thanh khoản HNX sáng nay.

"Cổ phiếu vua" một thời đang có xu hướng trỗi dậy, khi 3 trong 13 cổ phiếu thanh khoán cao nhất HNX là các mã ngành ngân hàng. ACB trong vòng một tháng qua hiếm khi đạt mức giao dịch trên 1 triệu cổ phiếu, song, sáng nay đạt tới 1,92 triệu. SHB từ khi lên trên 8.000 đồng được mua bán sôi động hơn, hôm nay chuyển nhượng 5,8 triệu.

Ngoài cổ phiếu ngân hàng, nhiều cổ phiếu chứng khoán cũng được mua mạnh. KLS, BVS, SHS, VND, WSS ở sàn Hà Nội đều ghi nhận mức trao tay trên 1 triệu cổ phiếu. Trong khi đó, SSI là một trong 11 mã chuyển nhượng cao ở sàn TP HCM.

Thanh khoản giảm nhẹ so với hôm qua, nhưng vẫn giữ mức cao. Tại HOSE, có 89,53 triệu chứng khoán giao dịch, trị giá 1.531,88 tỷ đồng. Trị giá mua bán ở HNX đạt 587,38 tỷ đồng, tương đương 64,34 triệu chứng khoán.

Vn-Index tăng 4,31 điểm, chốt tại 427,95 điểm. HNX-Index cũng đóng cửa trong sắc xanh, lên 0,9 điểm, kết thúc ở 69,58 điểm.

UPCoM-Index đạt 34,58 điểm, tăng 0,17 điểm, giao dịch 191.260 cổ phiếu , ứng với 1,19 tỷ đồng, lúc 11h10. Hôm qua, thị trường giao dịch cổ phiếu công ty đại chúng chưa niêm yết đạt 34,41 điểm, mất 0,15 điểm, giao dịch gần 217.000 cổ phiếu, tương ứng 0,75 tỷ đồng.

Wednesday, February 29, 2012

Hệ lụy sở hữu chéo cổ phần ngân hàng

Xuất phát điểm của sở hữu chéo cổ phần giữa các ngân hàng không bắt nguồn từ mục tiêu lợi nhuận, thâu tóm, sáp nhập, hợp nhất như đang thịnh hành hiện nay. Tuy nhiên tình trạng sở hữu chéo cổ phần đang đưa tới việc tạo ra những liên minh ngân hàng, khiến cho việc quản lý của Nhà nước trở nên phức tạp. Nếu không được kiểm soát đúng mức, nguy cơ rủi ro hệ thống không phải là không có.

Khách hàng giao dịch tại Vietcombank. Ngân hàng này hiện là tổ chức tín dụng sở hữu nhiều nhất cổ phần của những ngân hàng khác
Ngân hàng Ngoại thương Vietcombank hiện là tổ chức tín dụng sở hữu nhiều nhất cổ phần của những ngân hàng khác. Sau khi thoái vốn khỏi Ngân hàng TMCP Gia Định (tên mới là Bản Việt - Viet Capital Bank), Vietcombank đang còn là cổ đông của SaigonBank, Eximbank, Quân đội, Phương Đông... với tỷ lệ nắm giữ tại mỗi nơi khác nhau.

Việc tham gia của Vietcombank vào những tổ chức tín dụng đó là dấu ấn của quá khứ. Nhiều năm trước, khi việc thành lập hệ thống ngân hàng cổ phần được thực thi, Nhà nước chủ trương phải có đại diện của mình trong mỗi ngân hàng và Vietcombank đã góp vốn với tư cách cổ đông nhà nước.

Sự hiện diện của Vietcombank nhằm mục đích giúp Nhà nước hạn chế những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý nếu có từ phía các ngân hàng cổ phần. Trong bối cảnh bấy giờ, sự thận trọng này là cần thiết. Ngoài ra xét từ góc độ nghiệp vụ, Vietcombank đã chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh với tất cả các ngân hàng họ góp vốn, thậm chí chia sẻ cả nhân lực. Trong đội ngũ lãnh đạo của không ít ngân hàng hiện tại, một số người gốc gác là từ Vietcombank.

Xuất phát điểm của sở hữu chéo cổ phần giữa các ngân hàng, như vậy, không bắt nguồn từ mục tiêu lợi nhuận, thâu tóm, sáp nhập, hợp nhất như đang thịnh hành hiện nay. Những năm 2006-2007, một số ngân hàng cổ phần góp vốn vào việc khai sinh những ngân hàng mới ở vai trò cổ đông lớn. Theo Luật các tổ chức tín dụng, họ chỉ được sở hữu tối đa 11% vốn của một ngân hàng. Để lách quy định trên, có ngân hàng lập các công ty con, công ty liên doanh, liên kết và các công ty này cũng trở thành cổ đông của ngân hàng mới. Kết quả là những nhóm cổ đông có mối quan hệ ràng buộc đã khống chế hoạt động của ngân hàng nơi họ sở hữu cổ phần chi phối.  

Cơ chế “xóa sổ” sẽ hình thành?

Sở hữu chéo cổ phần về bản chất không đơn giản chỉ là giữa các ngân hàng. Nó liên quan đến các doanh nghiệp, nhất là một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước - những đơn vị đang bắt buộc thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Trong đợt xếp loại các tổ chức tín dụng vừa qua, thành phần của nhóm 4 (nhóm yếu kém, không được tăng trưởng tín dụng trong sáu tháng đầu năm) bao gồm chủ yếu các ngân hàng mới ra đời và cá biệt có ngân hàng lâu năm nhưng vướng vào các khoản nợ xấu lớn.

“Rút ruột” là thành ngữ phổ biến hiện nay đề cập đến việc các nhóm cổ đông sở hữu chéo cổ phần ngân hàng vay mượn lẫn nhau trong mối quan hệ chằng chịt, khiến cho việc thu hồi vốn khó khăn và nợ xấu tiềm ẩn cao hơn bao giờ hết.
Việc rút vốn của doanh nghiệp sẽ để lại khoảng trống về năng lực tài chính của những ngân hàng nhóm 4. Tuy nhiên vấn đề không dừng lại ở đấy. Tháo gỡ sở hữu chéo đòi hỏi trước hết phải xử lý nợ xấu. Khi nợ xấu đã giải quyết xong, những ngân hàng này cũng không thể tự đứng trên đôi chân của mình do năng lực quản trị và sức cạnh tranh yếu. Họ phải sáp nhập vào những ngân hàng khác và sự biến mất của một số cái tên là điều không tránh khỏi.

Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần kể: “Chúng tôi được gợi ý xem xét ngân hàng X. Công bằng mà nói ngân hàng này có bộ máy nhân sự và mạng lưới không đến nỗi nào, nhưng nợ xấu lớn quá. Giải quyết xong là coi như hết vốn điều lệ, chúng tôi đành từ chối”.

Hầu hết ngân hàng cổ phần lành mạnh không muốn “dính líu” đến ngân hàng nhóm 4. Bây giờ Ngân hàng Nhà nước chỉ còn trông cậy vào Vietinbank, BIDV, Vietcombank để thực hiện tiến trình tái cơ cấu. Sở hữu chéo sẽ được giải quyết dứt điểm. Không còn cơ chế, thí dụ Vietcombank, nắm giữ bao nhiêu phần trăm cổ phần ngân hàng X nói trên, mà là Vietcombank mua ngân hàng đó theo giá trị còn lại được kiểm toán xác định, sau đó có thể gộp lại, ghi nhận tăng vốn điều lệ cho Vietcombank, còn ngân hàng kia bị xóa sổ. Nếu đó là ngân hàng niêm yết, khả năng sẽ bị hủy niêm yết trước khi bị mua là điều có thể xảy ra.

Không giống như giữa các doanh nghiệp, công ty bị mua trở thành công ty con của đơn vị đi mua, ngân hàng bị mua có thể bị cơ cấu lại, trở thành chi nhánh của ngân hàng đi mua. Tại sao ư? Tại vì không thể tồn tại một ngân hàng con trong khuôn khổ một ngân hàng lớn kiểu ngân hàng mẹ - ngân hàng con được. Một ngân hàng thương mại là một khối thống nhất, nó có thể có các công ty hoạt động chuyên về nghiệp vụ riêng như công ty mua bán nợ, khai thác tài sản; công ty cho thuê tài chính; công ty chứng khoán...nhưng không thể có ngân hàng X trực thuộc Vietcombank chẳng hạn.

Sở hữu chéo và nhóm lợi ích

Vào cuối năm ngoái Việt Nam có 37 ngân hàng TMCP. Sau khi SCB, Tín Nghĩa, Đệ Nhất hợp nhất, còn lại 35 ngân hàng. Trong số này, như tuyên bố của Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Đồng Tiến, có mươi ngân hàng không lành mạnh, cần tiếp tục tái cơ cấu. Khoảng 20-25 ngân hàng cổ phần là số lượng mà cơ quan quản lý cho rằng thích hợp và hướng tới.

Tình trạng sở hữu chéo cổ phần đang đưa tới việc tạo ra những liên minh ngân hàng, khiến cho việc quản lý của Nhà nước trở nên phức tạp. Một mặt những ngân hàng liên kết có thể tạo dựng sức cạnh tranh mạnh hơn trong việc hợp vốn cho vay dự án tầm cỡ, hỗ trợ thanh khoản lẫn nhau, chia sẻ thông tin về khách hàng... Mặt khác, nếu không được kiểm soát đúng mức, nó cũng tạo điều kiện cho việc cho vay tập trung vào những đối tượng có quan hệ với cổ đông lớn, dồn tín dụng cho những lĩnh vực rủi ro như bất động sản, chứng khoán. “Rút ruột” là thành ngữ phổ biến hiện nay đề cập đến việc các nhóm cổ đông sở hữu chéo cổ phần ngân hàng vay mượn lẫn nhau trong mối quan hệ chằng chịt, khiến cho việc thu hồi vốn khó khăn và nợ xấu tiềm ẩn cao hơn bao giờ hết.

Từ liên minh đến hình thành những nhóm lợi ích trong lĩnh vực ngân hàng là khoảng cách ngắn. Trong khi các cơ quan quản lý cấp bộ, ngành có xu hướng tiếp thị chính sách để việc ban hành chúng gần hơn với thực tế cuộc sống, thì các nhóm lợi ích tỏ ra không kém sắc sảo trong vận động hành lang nhằm làm cho cơ chế, chính sách nghiêng về phía bảo vệ quyền lợi của họ.

Nếu cơ chế càng không minh bạch, công khai, nhóm lợi ích càng dễ hiện hữu. Thí dụ gần nhất là phân loại ngân hàng. Có tổ chức tín dụng đang là con nợ của những khoản vay lớn liên ngân hàng, vừa được tái cấp vốn nhưng vẫn được tăng trưởng tín dụng ở mức 15%. Có ngân hàng nợ xấu thấp, chấp hành nghiêm chỉnh quy định, không bao giờ vi phạm trần lãi suất hay tỷ lệ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích...song vẫn chỉ được tăng trưởng tín dụng 8%. Và trên hết, dư luận vẫn chưa thể biết một cách chính xác nhóm bốn cụ thể có tên những ngân hàng nào. Một ngân hàng khi được hỏi về hạn mức tăng trưởng tín dụng năm nay đã trả lời thế này: “Chỉ tiêu tăng trưởng của chúng tôi dưới 15%”. Lập lờ như thế khiến dư luận có thể hiểu ngân hàng đó thuộc nhóm 2, 3 hay 4 cũng đều được cả.

Friday, November 4, 2011

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 1 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn

ĐTCK


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)

Thursday, November 3, 2011

Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ


Ngày 3/11/2011, Ngân hàng TMCP Gia Định sẽ tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2011 nhằm xin ý kiến về việc đổi tên và tăng vốn điều lệ.

Cổ đông tham dự có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 30/09/2011.

Ngan hang gia dinh 11 Ngân hàng Gia Định đổi tên thành Bản Việt, tăng vốn lên 3.000 tỷ

Ngân hàng TMCP Gia Định

Theo tờ trình Đại hội, Ngân hàng TMCP Gia Định (Gia Dinh Bank) sẽ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank). Vốn điều lệ của ngân hàng cũng sẽ được sửa đổi từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/8/2011. Đại hội cũng sẽ thông qua việc bầu cử bổ sung thêm 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2010-2014.

Được biết, cuối tháng 7/2011, Ngân hàng Gia Định đã chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1, giá bán 10.000 đồng/cp để tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.

Công ty chứng khoán Bản Việt là công ty tư vấn phát hành.

Theo Quang Sơn


(Theo website Nguyễn Thanh Phượng)